Lời Bác dạy nhấn mạnh vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy sức mạnh của nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh tổng hợp, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và môi trường hòa bình để đất nước phát triển.
Thấm nhuần lời Bác dạy, Trường Sĩ quan Công binh luôn chú trọng giáo dục, rèn luyện cán bộ, giảng viên, học viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm kỷ luật, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong quá trình đào tạo, Nhà trường quan tâm bồi dưỡng cho người học kiến thức, kỹ năng và phương pháp công tác dân vận, sẵn sàng thực hiện tốt nhiệm vụ giúp dân, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, xây dựng cơ sở chính trị địa phương, góp phần củng cố mối quan hệ quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.
Mỗi cán bộ, giảng viên, học viên hôm nay không chỉ học tập, rèn luyện để hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, mà còn phải luôn ghi nhớ lời Bác: dựa vào nhân dân, gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân. Đó cũng là một trong những phẩm chất quan trọng của người cán bộ, sĩ quan Công binh trong tình hình mới.![]()
![]()
Đại tá Ung Răng - người thầy vừa cầm phấn vừa cầm súng
Nghe đọc bài viết
Nhấn nút để nghe bài viết bằng giọng đọc nhân tạoĐại tá Ung Răng sinh năm 1922 tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk). Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ. Chàng thanh niên Ung Răng lên đường cầm súng theo tiếng gọi non sông, trở thành người chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam.
![]() |
Từ Trường Sĩ quan Lục quân 1 – cái nôi đào tạo sĩ quan đầu tiên của Quân đội ta, ông trưởng thành qua nhiều cương vị, từ Đại đội trưởng đến Chủ nhiệm Phân khoa Công binh. Từ đây, tên tuổi Ung Răng gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngành đào tạo sĩ quan công binh.
![]() |
Là người vừa chiến đấu, vừa dạy học, Ung Răng có mặt trên hầu khắp các chiến trường lớn: Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ… trong các năm 1952–1954. Sau đó, ông được cử sang học chuyên ngành công binh cao cấp tại Trung Quốc và Liên Xô cũ rồi trở về nước tiếp tục công tác tại Trường Sĩ quan Lục quân 1.
![]() |
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, ông tiếp tục xung phong vào chiến trường B2 (miền Đông Nam Bộ (1965–1969), mang theo tri thức, kinh nghiệm và ý chí của người cán bộ, giảng viên công binh để vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng công binh tại chỗ.
![]() |
Từ 1970 đến 1988, trên cương vị là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Công binh, Đại tá Ung Răng đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong quá trình xây dựng, chiến đấu và phát triển của Nhà trường. Giai đoạn 1970 - 1979, ông vừa lãnh đạo, vừa trực tiếp tham gia thực tế chiến trường, đặc biệt là chiến dịch ở Tây Nguyên và biên giới Tây Nam... Cuộc đời binh nghiệp của ông là minh chứng sinh động cho hình ảnh người thầy - người chiến sĩ: Vừa cầm phấn, vừa cầm súng, tận hiến cho Tổ quốc.
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, một thử thách lớn đặt ra là phải tìm địa điểm mới để phát triển Trường Sĩ quan Công binh thành một trung tâm đào tạo quy mô, hiện đại.
Chính trong thời khắc ấy, Đại tá Ung Răng đã thể hiện bản lĩnh của một nhà lãnh đạo tầm nhìn xa. Với quyết tâm và tâm huyết, ông kiên trì đề xuất xây dựng Nhà trường tại phường Thủ Dầu Một (TP Hồ Chí Minh) - vùng đất thuận lợi cho huấn luyện, thực hành kỹ thuật công binh.
Ông phối hợp chủ động thực hiện từ khảo sát địa hình, dựng lán tạm, xin từng thanh sắt, tấm tôn… đến động viên cán bộ, học viên yên tâm vượt khó. Nhưng bằng tinh thần “vì Nhà trường, vì học viên”, thầy Ung Răng đã khơi dậy ý chí đồng lòng, đoàn kết trong toàn thể cán bộ, giảng viên, học viên, chiến sĩ. Chính từ nền đất đỏ ấy, Trường Sĩ quan Công binh khang trang, vững mạnh đã được dựng lên – đặt nền móng cho sự phát triển vượt bậc sau này.
Là nhà giáo – nhà khoa học, Đại tá Ung Răng luôn tâm niệm: “Huấn luyện phải sát thực tế chiến trường, đào tạo phải vì chiến đấu mà huấn luyện”. Ông trực tiếp chỉ đạo biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy gắn liền với kinh nghiệm thực tế chiến đấu; đồng thời chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên.
Nhờ đó, Trường Sĩ quan Công binh từng bước khẳng định vị thế trong hệ thống các học viện, nhà trường Quân đội; từ trung cấp lên cao đẳng, rồi đại học, trở thành Trường sĩ quan Công binh chính quy, mẫu mực, tiêu biểu, hiện đại như hôm nay.
Không chỉ tâm huyết với công tác giảng dạy, Đại tá Ung Răng còn say mê nghiên cứu khoa học, sáng tạo nhiều thiết bị phục vụ huấn luyện. Những công trình tiêu biểu của ông như “Giá nhổ cọc giản đơn, chân giá cơ động”, hay “Ca bin tập lái ô tô CB-84” từng được Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và Nhà nước khen thưởng, đánh giá cao.
Năm 1988, sau 43 năm cống hiến, Đại tá Ung Răng nghỉ hưu ở tuổi 66. Nhưng ngọn lửa của người thầy - Đại tá Ung Răng vẫn luôn được các thế hệ thầy và trò Trường Sĩ quan Công binh gìn giữ, thắp sáng.
Đại tá Phạm Nguyễn Ngọc Anh, Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan Công binh xúc động nói: “Mặc dù thầy Ung Răng đã về cõi vĩnh hằng nhưng trong mỗi giờ giảng, mỗi buổi huấn luyện, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng người thầy mẫu mực, tận tâm, tận lực, tận tụy – người đã dành cả đời cho mái trường thân yêu. Nhắc đến thầy Ung Răng, ai cũng nhớ đến một tấm gương sáng về đạo đức, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm. Ông là hiện thân của câu nói giản dị mà thiêng liêng: “Dù ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người thầy trong Quân đội vẫn phải là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tri thức”.
Hiện nay, Trường Sĩ quan Công binh đang vững vàng trên con đường phát triển, cán bộ, giảng viên, học viên toàn trường càng thêm thấm thía công lao của các thế hệ đi trước – trong đó có thầy đáng kính Ung Răng. Thế hệ hôm nay nguyện tiếp nối truyền thống anh hùng, không ngừng rèn luyện, phấn đấu, xây dựng Trường Sĩ quan Công binh cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.




Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!